Quá nhiều bất cập về ứng dụng CNTT trong giáo dục

Cập nhật lúc 14h03' ngày 21/06/2010

Nếu như 10 năm trước đây, CNTT còn là một khái niệm xa lạ với ngành giáo đào tạo trong nước thì nay nó đã là nhu cầu và là xu hướng phát triển tất yếu. Từ bậc tiểu học tới đại học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy đang được xem là cách làm mới để nâng cao hiệu quả đào tạo và chất lượng của đội ngũ học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều bất cập.

Nhu cầu tất yếu

Khi ý tưởng ứng dụng CNTT trong đào tạo giáo dục được đưa ra cách đây nhiều năm, đã có nhiều ý kiến cho rằng điều đó là chưa cần thiết. Thậm chí nhiều người còn cho rằng không có CNTT thì ngành giáo dục thế giới vẫn phát triển tốt trong nhiều năm qua; và rằng không có CNTT thì vẫn có rất nhiều nhân tài được đào tạo ra từ các “nôi” của giáo dục. Thế nhưng, cả thế giới đang vận động theo hướng ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả hoạt động, và ngành giáo dục cũng không nằm ngoài xu hướng đó.

Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao CNTT lại cần thiết đối với công tác đào tạo, giảng dạy? Thực tế cho thấy CNTT có thể giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, cũng như đổi mới phương pháp giảng dạy. CNTT còn giúp giáo viên tiếp cận và chia sẻ nhiều nội dung trong quá trình dạy học, soạn giáo trình trực quan hơn, và có thể tiếp cận nhiều phương pháp, mô hình, biểu bảng, tính toán hơn.

Về phía người học, CNTT sẽ giúp tăng sự chủ động cho học sinh – sinh viên, giúp họ chủ động hơn trong học tập và nghiên cứu. Thông qua CNTT, các chương trình đào tạo cũng sẽ hướng tới người học nhiều hơn. Người học sẽ trở thành trung tâm, đồng thời CNTT còn giúp tạo nên sự hứng thú học tập cho giới học sinh – sinh viên.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012; đồng thời từng lấy năm học 2008 - 2009 là năm "Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục - đào tạo".

Trên tinh thần đó, ngành giáo dục sẽ triển khai mạng Internet băng rộng miễn phí đến các cơ sở giáo dục mẫu giáo, mầm non, tiểu học, THCS và THPT, các phòng GD và ÐT, các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng. Ngoài ra, việc đấu nối cáp quang giá ưu đãi cũng được triển khai tới các trường đại học và cao đẳng. Ngành giáo dục cũng đẩy mạnh việc tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, giảng dạy qua truyền hình và qua mạng Internet nhằm tiết kiệm chi phí và tăng khả năng tương tác hai chiều.

Các giáo viên cũng được khuyến khích soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử và giáo án trên máy tính. Ngoài ra, việc soạn bài giảng điện tử e-learning trực tuyến, giảng dạy qua mạng cũng được tăng cường. Phần lớn các trường đại học lớn trên địa bàn Hà Nội hiện nay đều được đầu tư các phòng lab khá hiện đại, cho phép sinh viên có thể thực hành ngay trên máy, thậm chí là có thể tổ chức thi trực tiếp trên các hệ thống này.

Dạo qua các giảng đường đại học hiện nay, không khó có thể thấy cảnh sinh viên mang theo máy tính xách tay để học và thực hành. Chiếc laptop ngày càng trở thành công cụ trợ giúp học tập không thể thiếu đối với giới học sinh – sinh viên. Chúng giúp sinh viên tiết kiệm đáng kể thời gian ghi chép để tập trung nhiều hơn cho phần thực hành. Bài giảng lý thuyết thường được cung cấp dưới dạng tệp tin download để sinh viên có thể nghiên cứu sâu hơn tại nhà hoặc tại bất cứ nơi nào họ muốn.

Hiệu quả chưa cao

Tuy chủ trương của Bộ GD – ĐT là đúng đắn nhưng thực tế triển khai còn vấp phải nhiều khó khăn trở ngại, nếu không muốn nói là bất cập. Việc đầu tiên được nhắc tới có lẽ là ứng dụng CNTT trong quản lý và điều hành ngành giáo dục. Đây là một trong những trọng tâm ưu tiên của ngành nên nó được triển khai khá sớm, và bản thân đội ngũ cán bộ, viên chức trong ngành đều có nhận thức và kỹ năng CNTT tương đối khá. Các ứng dụng được đưa vào mảng này bao gồm phần mềm quản lý tài chính, quản lý thi và tuyển sinh, quản lý cơ sở vật chất, hệ thống thư viện và học liệu…, thế nhưng thực tế lại cho thấy việc triển khai vẫn chưa thực sự đồng bộ, và phần lớn còn mang tính tự phát.

Cũng liên quan tới vấn đề này, hiện vẫn chưa có phần mềm lõi về quản lý điều hành trong phạm vi Sở và các cơ quan trực thuộc; đồng thời cũng chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành. Các nhân lực phụ trách trực tiếp thực hiện ứng dụng CNTT trong các cơ quan còn thiếu. Đó là chưa kể tới bất cập trong đội ngũ giáo viên cơ sở tại các trường học địa phương. Không phải ai cũng rành về CNTT để đổi mới phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của Bộ.

Theo ông Nguyễn Xuân Phong, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học FPT, thì việc thay đổi theo hướng “số hóa” ngành giáo dục đào tạo trước hết nên bắt đầu từ đội ngũ lãnh đạo các trường, nhằm xóa bỏ sức ì và tâm lý ngại thay đổi từ những “đầu tàu” làm nên sự thay đổi này. Ngoài ra, cũng theo ông Phong, các trường cần phải có sự đầu tư đúng cách, có hệ thống và phải đồng bộ.

Cũng nói tới sự đồng bộ, bà Vũ Thị Phương Anh, Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai cho rằng hiệu quả ứng dụng cần phải được đặt lên hàng đầu. Theo bà Phương Anh, không phải lúc nào phần mềm đắt tiền cũng tốt bởi thực tế cho thấy chúng sẽ kém hiệu quả nếu không được đồng bộ với các hệ thống có sẵn khác.

Ngoài ra, một yếu tố không kém phần quan trọng khác chính là ý thức học tập theo phương pháp mới của học sinh - sinh viên. Theo một vị quan chức của ngành giáo dục thì ngoài những chuyển biến mang tính chất hệ thống từ trên ra, học sinh - sinh viên chính là đối tượng sau cùng cho thấy việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy có hiệu quả hay không. Nói cách khác, sự thành công sẽ được đánh giá qua chất lượng học tập cuối cùng của học sinh - sinh viên.

“Tuy số lượng học sinh - sinh viên có máy tính ngày càng nhiều, nhưng thử hỏi bao nhiêu trong số này thực sự coi đó là công cụ trợ giúp học hành, hay chủ yếu chỉ để chơi game, chát chít và tham gia các hoạt động khác ở trên mạng?” - vị quan chức này đặt câu hỏi.

Theo SoHoa
Đánh giá(?):
META.vn | Mua sắm trực tuyến
Bài viết mới nhất
Xem tất cả
Bài viết cũ hơn cùng chủ đề
Xem tất cả