Quản trị mạng - Khi một bản nâng cấp hệ điều hành mới chỉ có giá 29USD, bạn có thể cho rằng đây chỉ như một bản Service Pack thông thường. Điều này cũng từng xảy ra với Mac OS X 10.6 (“người anh” của Snow Leopard) vì người dùng không nhận thấy những tính năng mới của nó, và thậm chí nhiều người còn cho rằng nó không đáng giá tới 129USD.
Cơ chế định giá của Snow Leopard khá hợp lý, nhưng nếu coi Snow Leopard là một bản Service Pack thông thường thì không xác đáng vì nó cung cấp nhiều tính năng cải tiến và tính năng mới rất hữu dụng cho người dùng Mac (Nếu đang sử dụng Leopard, bạn sẽ phải mua bản nâng cấp này với giá 29USD, và 169USD để nâng cấp lên từ các phiên bản của Mac OS X).
Nhiều cải tiến mới của Snow Leopard được thực hiện từ bên trong. Ví dụ, Apple đã nâng cấp kernel, gồm nhiều ứng dụng và hầu hết các ứng dụng của OS có cấu trúc 64 bit (cho phép bộ nhớ truy cập ảo có dung lượng 16 EB (exabytes) và bộ nhớ truy cập vật lý có dung lượng trên 32GB).
Tuy nhiên cho tới khi các ứng dụng được lập trình lại cho cấu trúc 64 bit và những mẫu máy Mac mới có hỗ trợ loại bộ nhớ đó thì trước mắt người dùng cũng không tận dụng được nhiều tính năng từ những thay đổi này. Nhưng với việc cải tiến QuickTimeX và các công cụ Java giúp cho quá trình xử lý các phương tiện và ứng dụng Java (được sử dụng trên các website) nhanh hơn.
Ngoài những cải tiến quan trọng về lâu dài này, Snow Leopard còn có một số tính năng và cải tiến đáng chú ý khác mà người dùng có thể nhận thấy ngay khi sử dụng.
1. Hỗ trợ ActiveSync và Exchange 2007

Cũng như iPhone, Apple cũng đã tích hợp các công cụ của Microsoft vào hệ điều hành Snow Leopard. Điều này có nghĩa là các ứng dụng email, lịch biểu và liên lạc của Apple có thể làm việc thông suốt với máy chủ Exchange 2007 tạo cho người dùng cảm giác như đang sử dụng Microsoft Entourage nhưng với giao diện đẹp hơn và chiếm dụng ít bộ nhớ hơn. Ngoài ra Snow Leopard cũng giữ lại một số ứng dụng được tích hợp trên OS X trước đó, như Mail, iCal và Address Book.
2. Khả năng tương hợp của Expose trong Dock
Dock của Mac OS X giúp truy cập vào các ứng dụng, mở tài liệu và các folder thường sử dụng rất dễ dàng, công cụ này cũng được Microsoft đưa vào thanh Taskbar cải tiến của Windows 7. Nhờ có sự tương hợp của Expose mà giờ đây việc mở các tài liệu còn dễ dàng hơn nhiều.

Khi click và giữ một biểu tượng ứng dụng trong Dock, bạn sẽ thấy một số cửa sổ xem trước (preview) cho mỗi tài liệu mở của nó giúp bạn dễ dàng chuyển đổi hay đóng chúng lại. Bạn có thể thực hiện tất cả các thao tác mà không phải mở cửa sổ tài liệu. Mặc dù Expose được thiết kế là để cung cấp đường tắt để mở các cửa sổ ứng dụng nhưng nó khá hữu dụng trong việc thực hiện các chức năng này.