Quản Trị Mạng - Các chuyên gia có lời khuyên dành cho các doanh nghiệp đang băn khoăn về việc sử dụng các trình ứng dụng kinh doanh trên một đám mây chung là: hãy xem xét đám mây riêng trước đã.
Nhưng theo Joe Tobolski, giám đốc điện toán đám mây ở Accenture, tạo và quản lý một đám mây trong trung tâm dữ liệu không phải chỉ là một dự án cơ sở hạ tầng. “Rất nhiều hãng công nghệ đang mô tả điều này như một loại hàng hóa có thể mua được, chỉ cần rắc một chút bột mây lên cơ sở dữ liệu và người sử dụng sẽ có một đám mây riêng. Thực tế không đơn giản như vậy”.
Theo Tobolski, các tổ chức CNTT đã nghiên cứu về đám mây tiền đề riêng trong nhiều năm nay, bắt đầu với việc hợp nhất trung tâm dữ liệu, hợp lý hóa hệ điều hành, nền tảng phần cứng và phần mềm, ảo hóa máy chủ, kho dữ liệu và mạng. Những nguyên lý mang tính dẫn đường chính là sự co giãn và việc định giá theo sử dụng. Những nguyên lý này thể hiện sự tiêu chuẩn hóa, tự động hóa và thương mại hóa trong CNTT. Khi đề cập đến cơ sở hạ tầng và sự phân phối các nguồn lực, Tobolski cho biết thêm: “Đó còn là việc xây dựng các trình ứng dụng cũng như liên quan đến kinh nghiệm của người sử dụng CNTT”.
Dù sao đi nữa, về vấn đề đám mây riêng, chúng ta cũng mới đang chỉ ở giai đoạn sơ khai. Theo Forrester Research, chỉ 5% trong số các doanh nghiệp lớn trên toàn cầu có khả năng sử dụng đám mây riêng, và theo James Staten, nhà phân tích hàng đầu của hãng, chỉ một nửa trong số đó thật sự có đám mây riêng.
Nếu người sử dụng thật sự muốn tìm hiểu về khai thác điện toán đám mây riêng, dưới đây là những điều nên biết:
Các bước khởi đầu: Tiêu chuẩn hóa, tự động hóa và chia sẻ nguồn lực
3 nguyên tắc của Forrester để tạo đám mây riêng cho nền CNTT tương lai cũng tương tự như của Accenture. Theo Staten, để tạo một đám mây tiền đề, cần phải tiêu chuẩn hóa và ghi chép lại các quá trình vận hành, khai thác và duy trì môi trường đám mây.
Hầu hết các doanh nghiệp đều không có đủ điều kiện tiêu chuẩn hóa, mặc dù các doanh nghiệp trong đó ban quản lý dịch vụ CNTT quản lý thư viện thông tin CNTT (ITIL) sẽ là những doanh nghiệp gần với các tiêu chuẩn này hơn cả. Quá trình điều hành được tiêu chuẩn hóa nhằm tạo ra sự hiệu quả và đồng nhất là các nhân tố quan trọng để thực hiện bước tiếp theo – sự tự động hóa. Staten cho biết: “Người sử dụng cần phải tin tưởng và sử dụng nhiều công nghệ tự động hóa. Đây là một rào cản lớn với hầu hết các doanh nghiệp”. Việc khai thác công nghệ tự động hóa có lẽ là bước khởi động tốt nhất vì nó giúp tăng cường khả năng tự phục vụ. Với một đám mây riêng thì đây không phải là phong cách hoạt động theo kiểu Amazon trong đó người thiết kế đám mây có thể khai thác những bộ máy ảo (VM) như ý muốn. “Đây thật sự là một mớ hỗn loạn trong một doanh nghiệp và hoàn toàn phi thực tế”.
Hơn thế nữa, với một đám mây riêng, tự phục vụ có nghĩa là một doanh nghiệp tạo lập và tự động hóa các công việc thông qua nguyên tắc: một nguồn lực được sử dụng phải trải qua quá trình xét duyệt để được chấp nhận sử dụng. Một khi đã được đồng ý chấp nhận, nền tảng đám mây đó sẽ tự động khai thác một môi trường cụ thể. Thường thì việc tự phục vụ trong một đám mây riêng chính là việc các nhà thiết kế yêu cầu “3 bộ máy ảo cùng kích thước, khối lượng lưu trữ của kích thước đó và băng thông rộng của kích thước đó”, theo Staten. Việc tự phục vụ dành cho người sử dụng cuối cùng đang tìm kiếm các nguồn lực từ đám mây riêng có thể là việc “Tôi cần một kích thước SharePoint hoặc là chia sẻ file”.
Thứ ba, tạo một đám mây riêng có nghĩa là chia sẻ nguồn lực. Đây không phải là vấn đề công nghệ. Theo Staten, “Nếu phòng marketing không muốn chia sẻ máy chủ với phòng nhân sự, và phòng tài chính cũng không chia sẻ với các phòng ban khác thì sẽ rất khó để vận hành một đám mây. Các đám mây sẽ hầu như không đem lại hiệu quả gì khi các nguồn lực không được chia sẻ”.
Đối mặt với thách thức này, giám đốc CNTT Marcos Athanasoulis đã đưa ra một cách thức sáng tạo để làm cho người tham gia cảm thấy thoải mái với việc chia sẻ nguồn lực trên cơ sở hạ tầng đám mây dựa trên Linux mà ông đã quan sát được ở Harvard Medical School (HMS) ở Boston. Ông cho biết, đây là hướng tiếp cận nhờ vào phần cứng. Ở HMS (nơi mà Athanasoullis gọi là miền đất của 1000 CIO), nền CNTT đối mặt với một thách thức khá độc đáo. HMS không có một cơ quan có thẩm quyền để chỉ đạo một phòng thí nghiệm phải sử dụng công nghệ nào. Vẫn có một vài sự cưỡng chế, nhưng một phòng thí nghiệm hoàn toàn có thể khai thác cơ sở hạ tầng của chính mình nếu muốn. Do đó, khi bàn về vấn đề đám mây 4 năm trước, HMS đã mong muốn “một mô hình trong đó HMS sẽ trả tiền và trợ cấp cho một phương thức chia sẻ nguồn lực. Ở phương thức chia sẻ nguồn lực này, những người chỉ có một số nhu cầu nào đó có thể truy cập và tìm kiếm các nguồn lực mong muốn để hoàn thành các nghiên cứu khoa học của mình, nhưng đồng thời cũng sẽ cảm thấy hứng thú với các phòng thí nghiệm muốn tạo môi trường đám mây hoặc điện toán có chất lượng cao nếu không có sự thay thế phù hợp cho những nguồn lực họ muốn tìm kiếm”.
Với cách tiếp cận này, nếu một phòng thí nghiệm mua 100 node trong đám mây thì có thể được đảm bảo truy cập với số node này. Nếu số node này không được phòng thí nghiệm sử dụng thì những phòng ban khác có thể sử dụng chúng. Athanasoulis cho biết: “Chúng tôi đã nói với khách hàng của mình rằng: các bạn sở hữu phần cứng này, nếu các bạn muốn để chúng tôi tích hợp nó vào đám mây thì chúng tôi sẽ quản lý và cập nhật chúng giúp các bạn. Nhưng nếu các bạn không muốn điều đó thì các bạn có thể lấy lại chúng. Đây là điểm thu hút khách hàng của chúng tôi và trong 4 năm nay, chưa có ai rời bỏ đám mây của mình cả”.
Để hỗ trợ cho cách tiếp cận này, HMS sử dụng phần mềm tự động hóa khối lượng công việc LSF, nền tảng của điện toán nền tảng. “Công cụ này giúp chúng tôi có khả năng tạo ra danh sách các công việc chưa được hoàn thành trên các node, nhờ đó, những khách hàng đang sở hữu phần cứng có thể được đảm bảo truy cập và các công việc dở dang sẽ được lưu lại”.
Xem tiếp trang 2