Phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam: Nhân lực vẫn là "chìa khoá"

Cập nhật lúc 08h49' ngày 08/02/2006

Chúng ta cần thay đổi cung cách đào tạo để có những chuyên gia phần mềm đáp ứng được nhu cầu của công việc. Ảnh: L.Quang
Nhận định của nhiều chuyên gia công nghệ thông tin (CNTT), trong 5 năm qua, ngành công nghiệp phần mềm (CNPM) nước ta đã có những bước phát triển khả quan. Tuy nhiên, những con số chính xác, những mục tiêu đặt ra vẫn chưa đạt như mong đợi.

Nhiều doanh nghiệp phần mềm "ngại" báo cáo con số, do đó để có một con số tổng kết tổng quan tương đối chính xác về CNPM vẫn rất khó. Nhân lực vẫn là yếu tố then chốt để phát triển cho ngành công nghiệp này.

Tốc độ tăng trưởng đạt trung bình 35%/năm

Đánh giá chung cho thấy, 5 năm qua ngành CNPM của chúng ta có nhiều khởi sắc. Từ năm 2000 đến nay CNPM luôn giữ mức tăng trưởng với tốc độ khá cao, trung bình khoảng 35%/năm. Thống kê của hội tin học thành phố Hồ Chí Minh (HCA) cho thấy đến nay cả nước có khoảng 720 doanh nghiệp phần mềm (DNPM) đang thực sự hoạt động, thu hút được hơn 20.000 lao động phần mềm chuyên nghiệp. Tổng doanh thu của các DNPM năm 2005 ước đạt khoảng 250 triệu USD, trong đó có khoảng 70 triệu USD xuất khẩu. Như vậy, quy mô ngành CNPM nước ta cả về lực lượng lao động lẫn tổng doanh thu hiện nay đã tăng lên gấp 4 lần so với năm 2000. Một số chuyên gia còn cho rằng phương pháp thống kê nói trên chưa đầy đủ, còn bỏ sót một số lĩnh vực như chưa tính lực lượng làm phần mềm bán chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị không chuyên CNTT. Theo các chuyên gia này, nếu tính hết quy mô ngành phần mềm Việt Nam hiện đã có hơn 30.000 lao động, với doanh số quy đổi lên tới trên 350 triệu USD.

Cả nước ta hiện có khoảng 10 doanh nghiệp (DN) có số lập trình viên từ 300-500 người, và khoảng hơn 10 DN có số lập trình viên từ 100-300 người. Hiện nay, Việt Nam đã có hai DN đạt chứng chỉ cao nhất về quy trình quản lý chất lượng sản xuất phần mềm quốc tế CMMI-5, 5 doanh nghiệp đạt CMM mức 3 hoặc 4, và trên 30 DN đạt ISO 9001. Ngoài ra, có rất nhiều DN khác cũng đang cố gắng phấn đấu để lấy chứng chỉ CMM, CMMI hoặc ISO. Điều này cho thấy sự phát triển đầy tiềm năng của CNPM Việt Nam.

Về năng lực hoạt động của các DNPM, theo khảo sát của HCA có khoảng 29% DN hoà vốn sau 2 năm thành lập. Đây là một tỉ lệ tương đối tốt, nhưng cũng có tới 28% DN hoà vốn sau từ 3 đến 4 năm. Số DNPM có lãi suất hàng năm từ 10% đến 30% chiếm tỉ lệ 42%, từ đó cho thấy đa số DNPM có thể khẳng định sự thành công ban đầu của mình. Tuy nhiên, chỉ có 13% DNPM có doanh thu cao hơn chi phí từ 30% đến 50%.

Thống kê cũng cho thấy các DNPM quy mô lớn thường đã có thời gian hoạt động trên 5 năm. Sự tăng tốc đều đến ở giai đoạn sau năm hoạt động thứ 5 trở đi. Các DN này thường có định hướng xây dựng thị trường, chuyên môn hoá cao, rất chuyên nghiệp trong lĩnh vực gia công phần mềm và dịch vụ, từ đó quảng bá được năng lực, bước đầu xây dựng được thương hiệu riêng. Nhu cầu từ thị trường ngoài nước hiện đang tăng trưởng mạnh, và DNPM quy mô lớn càng có cơ hội kiếm được nhiều khách hàng.

Tuy nhiên, bên cạnh các công ty phần mềm lớn nêu trên, phàn nhiều các DNPM Việt Nam vẫn là các công ty vừa và nhỏ, với năng lực cạnh tranh còn hạn chế, quy trình sản xuất và quản lý chất lượng chưa cao, đội ngũ chuyên gia bậc cao còn ít, chưa có kinh nghiệm marketing.

Nhân lực vẫn là "chìa khoá"

Theo HCA, chính sách của Nhà nước về đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT mấy năm qua đã bắt đầu phát huy tác dụng. CNTT là một trong số các ngành được mở ở nhiều trường đại học nhất hiện nay. Chỉ riêng hệ công lập, hiện tại cả nước có 255 cơ sở đào tạo về CNTT, trong đó có 70 cơ sở đào tạo đại học, 105 cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng và 50 cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp. Chỉ tiêu tuyển sinh bậc đại học về CNTT mấy năm qua liên tục tăng và hiện nay xấp xỉ 10.000 sinh viên/năm. Tổng số sinh viên đang theo học ngành CNTT trong các trường công lập hiện ước tính khoảng 80.000, với số lượng tốt nghiệp khoảng 15.000/năm. Chính sách khuyến khích, thúc đẩy xã hội hoá đào tạo CNTT cũng đã phát huy tác dụng tốt. Từ con số 9 trung tâm đào tạo phi chính quy năm 2000, đến nay, đã có 69 trung tâm đi vào hoạt động. Hằng năm, lực lượng này có thể cung ứng cho thị trường 7.000-10.000 chuyên viên CNTT.

Nhân lực phần mềm Việt Nam được đánh giá là năng động, thông minh, có kiến thức cơ bản, có khả năng đào tạo nâng cao trình độ nhanh, dễ thích nghi với điều kiện làm việc cường độ cao, và có giá nhân công thấp. Tuy nhiên lao động Việt Nam phần lớn còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu và trình độ ngoại ngữ. Đặc biệt hiện nay CNPM Việt Nam rất thiếu các chuyên gia giỏi về quản trị dự án, thiết kế giải pháp, tiếp thị, đảm bảo chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, còn bất cập, mất cân đối, chưa có nhiều giáo viên có kinh nghiệm thực tế làm phần mềm; cơ sở phòng thí nghiệm, thiết bị cho đào tạo thực hành còn sơ sài. Như vậy, trong thời gian tới, nhân lực vẫn là vấn đề then chốt và đau đầu với không chỉ DNPM mà với cả hệ thống giao dục ở Việt Nam.

Cơ hội đã có, cần tận dụng ngay

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, vai trò của Vinasa, các doanh nghiệp lớn, đơn vị đứng đầu về lĩnh vực CNTT ở Việt Nam với công cuộc phát triển CNPM là rất to lớn. Từ những lúc ban đầu các đơn vị trong nước chưa có sự liên kêt, hiệp hội, họ đã tụ nhau lại để khai phá các thị trường nước ngoài, tuyên truyền, đầu tư cho phát triển nhân lực trong nước để đáp ứng nhu cầu ở các thị trường tiềm năng như Nhật Bản, Bắc Mỹ. Tuy nhiên, họ cũng có phần lơ là khai thác thị trường nội địa, một thị trường cũng rất tiềm năng và có nhiều cơ hội để thu lợi ngay.

Khảo sát của HCA cho thấy có 69% số DNPM chủ yếu định hướng thị trường trong nước (thị trường trong nước chiếm từ 70% trở lên), và 28% số DN định hướng thị trường ngoài nước (thị trường ngoài nước chiếm từ 70% trở lên). Điều này phản ánh một thực tế phần nhiều DNPM Việt Nam còn có quy mô nhỏ và chưa dám (hoặc chưa đủ sức) vươn ra thị trường nước ngoài, tuy nhiên, nó cũng cho thấy hiện tại thị trường trong nước vẫn cần được xem là thị trường quan trọng.

Có thể nói, những con số tổng kết 5 năm của ngành CNPM là những đánh giá quan trọng để chúng ta nhìn lại và xây dựng những bước đi tiếp theo vững chắc. Cơ hội đã có, cả thị trường nước ngoài, thị trường trong nước đều đang có những cơ hội cho các DNPM. Nếu khắc phục được vấn đề nhân lực, quy trình đào tạo, liên kết nhau chặt chẽ hơn để cùng khai phá các thị trường này, CNPM Việt Nam có thể nhanh chóng phát triển ở mức cao hơn, quy mô hơn. Bài toán nhân lực chính là mấu chốt để phát triển CNPM.

Khó khăn lớn nhất đối với các DNPM trên thị trường nội địa chính là thiếu thông tin. Theo một kết quả khảo sát mức độ hiểu biết và tham gia vào các chương trình, dự án nhà nước của DNPM trong nước nói chung còn rất thấp. Để có thông tin, DNPM ngoài việc tự bản thân phải thu thập, tìm kiếm thì rất cần được hỗ trợ từ Chính phủ, các địa phương, Bộ, ngành.

Doanh nghiệp ngại tiết lộ con số

Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế xếp hạng thứ 20 trong số các quốc gia hấp dẫn nhất về software outsourcing. Có được những đánh giá này là cả một quá trình vận động, khai phá không ngừng của các hiệp hội và doanh nghiệp trong nước cùng với các chính sách khuyến khích của Nhà nước. Điều này cho thấy chúng ta đang đi đúng hướng.

Tuy nhiên, trên thực tế, cho đến nay, các con số thống kê về CNPM Việt Nam là chưa đầy đủ theo ý kiến của một số chuyên gia và nhà lãnh đạo. Nhiều doanh nghiệp ngại báo cáo con số, ngay như Vinasa cũng chỉ dừng lại con số báo cáo ở tỷ lệ %, và ước tính. Chính việc không có con số thống kê tương đối chính xác này phần nào sẽ ảnh hưởng tới các định hướng phát triển CNPM ở nước ta. Nó cũng thể hiện sự liên kết chưa khăng khít giữa các đối tác trong ngành CNPM ở ta.

Lê Quang

Theo vnMedia
Đánh giá(?):
META.vn | Mua sắm trực tuyến
Bài viết mới nhất
Xem tất cả
Bài viết cũ hơn cùng chủ đề